Author Archive

Áo Việt

Áo Việt ra đời tháng 09 năm 2007, sau 5 năm hoạt động chúng tôi tự hào đã phục vụ hơn 100.000 áo thun cho học sinh, sinh viên và 20.000 áo thun cho các công ty trên toàn quốc. Là một doanh nghiệp trẻ năng động với đội ngũ cán bộ và nhân viên kinh doanh trẻ đầy nhiệt huyết chúng tôi cam kết PHỤC VỤ QUÝ KHÁCH HÀNG BẰNG CẢ TRÁI TIM.

Hang động của mỗi người

Written by Áo Việt on . Posted in Giải trí

(viết cho một chuyên đề về nỗi cô đơn)

Nhìn vào bản vẽ nhà con gái trải ra trên đất, má hỏi vậy rồi cái chỗ dành cho khách ngủ nó nằm ở đâu. Em chưng hửng nói làm gì có. Má cũng chưng hửng hỏi gì kỳ vậy ?

Nhà má, cũng là bản sao của nhà ngoại, không rộng rãi nhưng luôn kê thừa ra bộ ván ngựa, bộ vạc cau, hay chiếc giường thước sáu dành cho bà con tới chơi ngủ lại. Quan trọng ngang bằng tủ ly là tủ gối, những bộ mền gối nằm không phải là mới tinh, nhưng sạch sẽ. Thỉnh thoảng, lựa ngày được nắng, má lại mang chúng ra phơi phóng cho thơm, hờ khi họ hàng ghé qua không phải trằn trọc vì mùi ẩm mốc. Ở trong tâm thế đón khách tới chơi bất tử, nên nhà má luôn sạch, trên bàn đặt sẵn bình thủy nước sôi với bộ ấm trà. Cũng giống như những ngôi nhà trong xóm, luôn có bộ vạc nhỏ đặt ở hàng ba, khạp nước mưa nhỏ cho khách bộ hành lỡ buổi. Hàng rào thấp, ơ hờ như chẳng có, trang trí cho vui chớ không phải để ngăn cách. Cửa mở phơi lòng. Ở cái xóm nhỏ vàm sông đó, nồi chè khoai môn và tiếng gà gáy đều chan đến ít nhất năm nóc gia.

Một ngôi nhà luôn phơi bày nết ở của chủ nhân nó.

Rào nhà em thì cao, cắm trên đầu rào những thanh sắt nhọn như ngọn giáo. Nhà bên xóm còn giắt miểng chai bia lên, quắc lạnh trong nắng, nhìn rợn thay cho bọn trộm. Tường dày hai lớp gạch, để mọi tiếng động bên xóm được đẩy ra xa, và cây trồng nghiêng ngã về sân nhà, bảo đảm không cái lá nào rơi lạc qua sân khác. Nhà mình là một cái hang, em nghĩ vậy, khi ngắm nghía tổ ấm sắp thành hình.

Mình sẽ cố thủ ở đây, tận hưởng sự riêng tư, không mặc gì trên người hoặc hát vống lên mà chẳng ngượng ngùng chi hết. Cơm khét chỉ mình ta biết, khà khà. Nghe người ta kể từng có thời kỳ cả nước hát chung bài hát, mặc chung sắc áo, và cùng ăn những món như nhau. Họ bị triệt tiêu những ý nghĩ khác lạ, những hành động không giống như bất cứ đám đông nào. “Quên chính mình, quên mình muốn gì đi, rồi thì sống ngon lành”, bí quyết của những người từng trải qua mùa đồng phục, khi em tò mò đi hỏi. Hóa ra chỉ ngắn gọn vậy, khi mô tả một nỗi đau bản thân bị đánh mất. 

Nên em trân trọng cái đời sống mà em nghĩ là khá dễ chịu, nhiều lựa chọn này. Thiếu niên thoải mái nhuộm tóc xanh mặc quần đáy thòng đến gối lắc lư điên dại theo một bài nhạc ngoại. Nhà báo thoải mái xăm trái tim đẫm lệ lên tay. Hai thằng con trai thoải mái hôn nhau giữa chỗ đông người. Chương trình thời sự trên đài truyền hình quốc gia thoải mái chen quảng cáo thuốc nam khoa một người khỏe hai người vui, mặt mày thỏa mãn. Và em, được một mình, tùy ý. Nhà chức trách căng thẳng vì người ta tụ tập, hoàn toàn chẳng bận tâm kẻ một mình. Em xài đã đời cái quyền được một mình đó. Dĩ nhiên khi khả năng này thuần thục, sắc sảo thì cũng có nghĩa vài khả năng khác trong em bị cùn lụt đi.

Có lần đọc nửa cuốn Những bức thư đầm ấm của hai ông Nguyễn Hiến Lê và Quách Tấn, em cùng người bạn hào hứng rủ nhau tụi mình sẽ viết thư giống mấy ông già kia. Kể nhau nghe cái gió chuyển mùa, bài hát sướt mướt vừa nghe được chiều nay, một cuốn sách hay tìm thấy được trong gánh ve chai, hay rên rỉ về một buồn quéo râu ria, vô cớ đến chiếm đoạt từng tế bào và không đưa ra lời hứa hẹn nào rằng sẽ ra đi sớm. “Quan trọng là hai chục năm sau khi đọc lại, tụi ta sẽ biết mình đã từng điên như thế nào…”, em hăng hái bảo vậy. Lịch sử rốt cuộc đã không được ghi lại, vì vụ tâm tình thương mến thương ấy đã xếp xó chỉ sau chục cái thư điện tử. Sự hào hứng ban đầu rơi xuống vực, xác nằm cạnh những mảnh vụn hào hứng kinh điển khác của thiên hạ như lên sàn chứng khoán, bán hàng đa cấp, lấy chồng Nam Hàn…

Những cái thư trắng sáng và phẳng phiu, không một vết ố nào trên giấy bởi nước mưa, không mang nỗi lo lắng bị thất lạc bởi anh nhân viên bưu điện làm rơi ở dọc đường, không sợ chữ xấu gà bươi vừa đọc vừa đoán… nhưng sự tiện nghi chẳng có giá trị gì, khi người ta không sẵn sàng chia sẻ. Một đứa trẻ tập tành cô độc khi nó bị đứt tay mà không khóc thét lên cho người lớn giúp. Nó tự mút máu, liếm láp vết thương. Nói ra nhiều khi rắc rối thêm, người lớn sẽ hỏi tại sao con chơi dao, má đã dặn rồi, đáng đời… Lớn lên một chút, thành thiếu nữ, những bí mật của một cơ thể biến đổi từng ngày, và những mối tình thầm, những giấc mơ u uẩn… nó càng thích riêng tư hơn. Một mình trở thành thứ gì đó gần như bản chất.

Hoặc là, những vui buồn bây giờ cứ vụn như bụi, khó mà kể thành chữ, thành lời. Nên những ý tưởng xuất hiện trong đầu như đi làm thiện nguyện xây cầu nông thôn hay tổ chức một buổi họp lớp, lên mạng lập nhóm đi Angkor… vừa nhen lên đã tắt ngúm.

Lần kết nối thất bại gần nhất của em là rủ bà bạn vong niên đi bụi. Ngay từ đầu đã xuất hiện một điềm báo xấu : bà bạn đi lạc trong bến xe. Em đi quá nhanh, lên xe ngồi chễm chệ và bạn rớt lại. Lúc chờ xe thì em bỏ rơi bà bằng cuốn Mười hai truyện phiêu dạt của ông Gabrien Gacxia Macket. Xe chạy, em lại tiếp tục để lạc bạn đường bởi thích day mặt ra ngoài ngắm cảnh. Thậm chí em còn làm một bài thơ về cái bóng chính mình bên ngoài tấm kiếng xe (*), sau đó sực tỉnh, bối rối tìm chuyện gì để nói với bà bạn đang xo ro bên cạnh.

Em áy náy với người bạn đường, nhưng em không sợ cái sự đứt rời không cứu vãn đó. Thật ra thì em từng sợ, từng kêu gào ôi tôi cô đơn quá. Cái tuổi hai mươi người ta hay kêu gào. Nhưng giờ thì em thấy bình thường. Bình thường khi nghĩ rằng được một mình là quà tặng của trời. Bình thường như cái cảm giác cô độc giữa chỗ đông người. Bình thường như ngán sợ nói chuyện điện thoại. Bình thường như việc từ chối đến chơi nhà bạn, “muốn gì thì gặp ngoài quán…”. Và rất bình thường nếu như căn nhà em không có chỗ nào dành cho khách. Chương trình thế giới động vật nói rằng, cọp cũng không thích bọn nào lân la đến hang ổ nó.

Chỉ má thấy không bình thường, và bà gởi ra cho em một bộ mùng mền chiếu gối, nhắn rằng “Bỏ vô tủ áo, hờ khi có khách…”.  Lúc nhờ thợ khoan vào vách hang của mình mấy cái khoen nhôm để treo mùng, em thản nhiên nghĩ chẳng bao giờ mình phải dùng tới nó đâu, cứ làm cho có vậy, cho má yên lòng.

Trong cái hang trống trải của mình, thỉnh thoảng em nghĩ về những ngôi nhà khác. Nhà của ông già Bến Tre hiu quạnh. Nhà ông bạn Cần Thơ tĩnh lặng. Nhà ông già An giang nhàu nhĩ, thiếu sức sống. Nhà của ông già Sài Gòn đẹp mà bồn chồn. Họ đều một mình, và không biết, có cảm thấy ngôi nhà là một cái hang ? Sự cô độc này đều được người ta tự chọn lấy, nhấm nháp như một tách trà đặc. Cho đến khi cái thứ nước chát đắng có hậu ngòn ngọt ấy thay cho máu, chảy trong người, ngập tràn tim. Chắc là lúc đó em vẫn thấy bình thường. Cũng hơi đáng sợ ở chỗ quá sức “bình thường” đó.

Chỉ thấy lạ, là đôi lúc em nghe thèm một tiếng người…


(*)Bài thơ mà em trên kia nhắc tới, hình như bài này 😀

Ca tụng bạn đường


lên xe mình sẽ sàng ngồi cạnh
chan sương dang nắng
im lặng tựa bào thai
chờ rạng hình hài 
dìm tôi trong ánh nhìn không đáy

tái sinh sau những lần tan chảy dưới mặt trời
tái sinh sau một cơn mưa lợp kín
mình dệt lại bờ vai
nhợt nhạt cùng ánh sáng
và da diết sâu khi đêm tối bắt đầu nhói lên từ chân rạ của cánh đồng
không bao giờ mình bỏ rơi tôi
trên từng chuyến xe
đời
tôi chìa tay mình sẽ chạm vào bằng những đầu ngón tay trong suốt
tôi cười và nhận lại nụ cười thầm
có lần tôi khóc nước mắt mình chảy câm
tôi ngủ, mình mơ cùng cỏ
gặp giấc trăng xanh sốt lả bên trời đỏ
theo gót kẻ đi rong
mình – cái bóng âm thầm ngoài cửa kính
neo vào đời một nhân dạng trong veo

Thông tin được tổng hợp bởi website làm áo đồng phục lớp An Việt Phước.

Truyện này vui cực :)

Written by Áo Việt on . Posted in Giải trí

Tro tàn rực rỡ
Truyện ngắn : Tui

Lúc đó nửa đêm rồi, lửa cao ngọn lắm. Cao hơn đọt dừa. Tàn đóm tán loạn mỗi khi gió thổi qua quăng quật đống lửa. Mấy cây trúc ven vách chịu nóng không nổi, vặn xoắn lại trước khi nổ như pháo chuột. Lần này nhà không lợp ngói nên không nghe ngói nổ, lửa cháy coi bộ êm đềm. Không giống như cây rơm trước sân cháy bạo phát bạo tàn, nhà của Tam và Nhàn cháy rất lâu, ánh sáng của nó rọi xa đến tận từng nóc nhà của xóm Thơm Rơm.

“Cô lại bỏ chị em con Tí để chạy lại đó ? Đã nói rồi, hay ho gì mà nửa đêm lặn lội…”, chồng càu nhàu trong tiếng võng đưa kèn kẹt. Em ấn mạnh thớt gỗ trên vào trái chuối, hai bả vai ê ẩm. Hôm nay chắc lại mưa chiều, mớ chuối ép phơi không đặng nắng, thâm xịt lại dưới bóng mây cụm ba cụm bảy. Mùi mật chuối đặc sệt trong sân, đầu mũi em như ướt đẫm đường.

– Ông Tam đốt nhà phải đến năm lần rồi  – Em nhẩm tính bằng mấy ngón tay đen kịt mủ chuối.

– Thì lần nào cũng như lần nấy, mắc gì phải coi.

Không phải, chồng chưa từng nhìn thấy một đám cháy nào nên chẳng biết mỗi đống lửa mang một mùi khác nhau. Mùi những con mối cánh bén lửa, mùi lá mục, hay mùi nhựa khét xộc ra từ tấm bạt xóc nóc nhà và những sợi dây câu. Em phân biệt được đám cháy nào có mùi những con chuột bị nướng trui trên mái ngói, hay những cái trứng kiến quá lửa, đám cháy nào lẫn khuất mùi cơm sôi do Nhàn đang bắc nồi cơm lên bếp thì đằng trước Tam rê quẹt gas vào mái lá… Em có thể nhớ mồn một những lần nhà Nhàn cháy, nhớ bao lâu thì đám cháy rụi đi. Và tàn tro của chúng cũng khác nhau, ít dần ít dần, có khi gom lại không đầy hai thúng. Đám cháy đầu, nhà Nhàn còn trơ được bộ cột cái cháy xém và những mảnh ngói vỡ ám khói. Ngôi nhà tương đối khang trang đó, là quà ra riêng hai bên sui gia góp lại. Sau này, lửa nhấm nháp đến trơ ra nền đất rám mặt, vì nhà của vợ chồng Nhàn ngày càng tạm bợ. Nhàn cười, nói với em, “trước sau gì anh Tam cũng đốt, làm tử tế chi uổng công. Tụi này cũng đâu có khá giả gì”. Và cái tối vừa rồi, thứ dào dạt tan đi trong lửa, chỉ là cái chòi cột cặm, không hơn.

– Nhưng nó cháy lâu lắm, lâu nhất từ trước tới giờ.

Em nói, khi hai bả vai đau nhừ nhẫm lại gồng lên lần nữa. Trái chuối bẹt ra như một bàn tay xòe. Nghe cái mùi tóc hơi tanh cá và khét nắng của chồng phảng phất ở lưng. Mai chồng đi, mùi ấy còn vướng vất lại trên võng đến cả tuần, hành hạ em tới ổ.

Em thường kể lại mấy vụ cháy Tam gây ra, vì chồng không bao giờ chạy đến đó, kể cả lúc ghe biển vào bờ và chồng về thăm nhà. Tỉnh rụi và dửng dưng, như vợ chồng Nhàn chưa bao giờ là xóm giềng, bè bạn. Dù vậy, em lại nghĩ là chồng muốn biết chuyện Nhàn làm gì sau mỗi bận nhà cửa hóa tro than.

– Chị Nhàn không khóc đâu, tỉnh bơ luôn…

Bới tàn tích ra chỉ mấy cái nồi cà ràng còn nguyên vẹn, chị đi dài xóm xin gạo, mót mớ củi ngoài sân nấu cơm. Ăn cái đã, rồi sống tiếp. Tam không bao giờ ăn cùng, anh không đói. No nê thỏa thuê, bụng căng đầy lửa, anh ngủ đến cả ngày sau. Nằm vạ vật bất cứ chỗ nào.    

Nhàn không bao giờ xin gạo ở nhà em, nhưng có lần hỏi mua ít lá dừa nước. Em bảo tụi mình với nhau mà bán chác gì, em cho, có mấy cây so đũa bên hè, chị đốn luôn đi. Nhàn nhặt nhạnh, kết lại cái tổ đủ hai vợ chồng chị chui ra chui vào. Nhìn chị kéo mớ lá về, đuôi lá quét lên cỏ một vệt ướt đẫm, em không làm sao nhịn được việc nghĩ đến kết cuộc của chúng : một đống tro than. Ý nghĩ ấy nếu biến thành lời người ta sẽ cho em là đứa ăn nói xui xẻo, trù ếm. Nhưng ở cái xóm Thơm Rơm này, ai mà không biết Tam say xỉn suốt ngày, và những lúc ấy anh ta hay lên cơn tủi thân. Chỉ vì Nhàn mệt quá ngủ quên không ngồi chờ bên cửa, chỉ vì con chó hàng xóm sủa dữ quá, và Tam nghĩ “nó khinh ta”, hay vì cái rễ cây me tây gồ lên khỏi mặt đường làm anh ta vấp té.

– Phải khóc được thì tôi đâu có đốt nhà. Tam phân trần, mặt hiền queo xẻn lẻn.

Má Tam bảo Nhàn bỏ thằng trời đánh phứt cho rồi. Bây muốn ở vậy thì ở với má, bằng không lấy chồng khác má cũng cúng heo ăn mừng. Chị kêu trời đất, con mà bỏ ai cất nhà cho ảnh đốt, lỡ đốt nhà hàng xóm, kỳ lắm. Bà già đó thở hắt ra, điệu bộ của ông thầy lang đứng trước con bệnh không thuốc chữa, sau khi dỗ dành chúng tôi đã cố gắng hết sức. Từ phát hiện ra chồng có thể tủi thân chỉ vì cọng cỏ, ngọn gió chướng, tiếng chim kêu nước… Nhàn mang gởi những thứ chị nghĩ là cần thiết, để lúc lửa bén nóc nhà chị chỉ cần vơ lấy cái kẹp tóc, rồi lách mình khỏi đám cháy sắp bùng lên, chị kiếm một chỗ ngồi nhìn Tam.

Nhưng trong mắt Tam chỉ có đám cháy rực rỡ. Không có Nhàn. Như mọi đàn ông ở cái xó quê này, họ thường không còn nhìn thấy vợ mình chỉ sau đám cưới vài ba tháng, nhiều lắm là vài ba năm. Có khi đứng, khi quỳ, giữ một khoảng cách vừa phải với lửa, Tam say đắm, tê mê ngắm chúng cho đến khi những cái lưỡi đỏ khát thèm liếm láp đến mẫu gỗ cuối cùng. Vẻ mặt rạo rực đó là của một con người khác, không còn là thằng Tam nghèo, chịu nhiều mất mát. Xóm giềng hồi đầu còn xúm lại tát nước cứu nhà, rồi thấy thằng chồng say sưa đứng ngó mái lá bị lửa ăn rào rào, và con vợ thì đắm đuối nhìn chồng, cả hai không có vẻ gì xa xót. Bà con nản, “thôi kệ cha cái tụi mắc đằng dưới, nghèo mạt rệp không lo, đốt nhà coi chơi là sao là sao là sao ?”

Em cũng đến đám cháy như một người coi hát. Vở tuồng của những con người đổ nát. Hồi con Tí còn nhỏ, em bồng nó theo, rồi kệ nó ngủ trên tay, em ở đó cho đến khi lửa rụi tàn. Thứ ánh sáng lộng lẫy đó xáo động em đến cả mấy tháng sau. Em thấy mình chính là Nhàn kia, một con đàn bà thèm khát được chồng nhìn thấy.

Em, chồng và Tam, Nhàn cưới nhau cùng năm. Tam và Nhàn cưới trước, hai bảy tháng hai. Em nhớ vì đêm hai sáu đi đám đãi bạn ở nhà Nhàn về, em và chồng (lúc ấy chưa gọi là chồng) cùng say, ngọn đuốc trên tay anh lắc lư trên con đường xóm. Rồi tự dưng anh dừng lại, nhìn em mê dại. Cái nhìn ngây ngất và bừng cháy ngay cả khi anh quăng con cúi xuống sông. Tàn đóm lịm trong làn nước tối thẫm. Một cách dứt khoát, anh vùi em vào trong một đống rơm, vùi vào giữa hai đùi em cơn cơn nóng hổi.

Năm đó em mười bảy tuổi, bốn tháng sau mới biết mình đang mang bầu. Suốt từ cái đêm nằm trên rơm đến khi bụng em phình ra không cứu vãn được, anh không gặp em. Anh ngoắc tàu đò ra cửa Gành Hào đi bạn cho ghe biển. Chán ruộng đồng rồi, ra chơi với biển, anh bảo vậy. Chắc nụi, như một lời thề. Như một cuộc trốn chạy. Một bữa má anh nhắn tàu đò kêu thằng con về gấp. Về cưới vợ. Bụng con nhỏ chang bang rồi. Chắc anh mất nhiều thời gian mới nhớ ra con nhỏ mà má nói là em, nhớ ra một đêm tối trời, say, đuốc chìm trên mặt nước, và mấy cọng rơm cứ cọ vào bẹn nhột ran.

Đám cưới rước dâu bằng cửa sau, em lủn tủn tròn quay với cái bụng đội áo. Cái khác biệt duy nhất mà đám cưới mang lại là em chuyển sang nhà chồng sống, phụ mẹ chồng ép chuối phơi khô, bán cho thương lái. Chồng lại đi biển. Em nối xứ Thơm Rơm vào chồng bằng những câu chuyện kể, lúc hết con nước, chồng về. Ờ, cái hôm em sanh con Tí, trăng sáng lắm, nằm trên xuồng ra trạm xá, em cứ nghĩ chắc là đẻ trên xuồng. Con nhỏ thiệt lì, láu ăn nữa, đem ra là mút tay chóc chóc. Em lo là mẹ lẫn, hôm rồi lấy dầu lửa nhỏ mắt, gần đui. Chị Nhàn sinh đứa thứ hai hơi khó, em bé chết lưu. Em đi thăm thấy chị cứ nằm co, kệ sữa ướt đầm đìa áo. Ông Tam dạo này hay nhậu.
Em kể và kể, vờ như bâng quơ, chuyện nọ xọ chuyện kia, như nhớ gì nói nấy. Như không phải em ấp ủ từng đêm trên cái giường trống hoác, những gì nên kể, những gì mà em nghĩ chồng muốn biết nhất. Chúng làm chồng muốn về nhà, để nghe. Cũng vài ba lần em hy vọng một vài câu chuyện nào đấy sẽ làm chồng nhìn em ngây say như tối ấy, cái nhìn mà vì nó em đã không kêu khi lưng trần chìm lút trong tấm thảm rơm. Cả khi anh nấc lên và đổ sụp xuống da thịt nhễ nhại của em mấy tiếng Nhàn, Nhàn ơi. Em không kêu, chỉ tự gỡ mấy cọng rơm trên tóc, tự cài cúc áo, và lẳng lặng về. Ngồi đòng đưa trên cây khế mỗi khi thấy thèm chua, em nhấm nháp cái ánh mắt nóng rực kia, dù biết vốn cũng không phải vì mình và cho mình. Nhưng có sao đâu, đêm đó bóng em in mắt anh, trọn vẹn. Ý nghĩ đó làm em không khóc cả khi ba em bắt nằm dài ra bộ ngựa đánh bằng bất cứ gì ông vớ được trong tay. Lúc ấy bụng đội lên làm người em không làm sao sát ván, đầu và chân như hai phía của bập bênh, nhừ nhẫm vì roi vọt.

Nhưng cái nhìn đó không bao giờ em còn thấy lại. Cả khi em nói anh ơi con Tí lại có em rồi, đạp mạnh lắm, chắc con trai. Mắt chồng vẫn tối, lạnh, sâu. Sau mỗi chuyến đi biển chồng về, tiếng võng lại  nghiến mòn đêm. Cho nhà có tiếng người, cho nó giống một gia đình đúng nghĩa, tiếng đàn bà nói rốp rẻn, đàn ông khạc nhổ và trẻ con cười, em lại kể chuyện, mong lấp đầy khoảng lặng. Má sưng phổi vừa nằm ở nhà thương huyện cả tuần. Cô giáo chọn con Tí đi thi viết chữ đẹp cấp xã. Thằng Lanh thì mọc được sáu cái răng. Hôm chị Nhàn vớt con Hoa dưới mé kinh lên, ông Tam đang gặt. Nghe người ta kêu, ông chạy về đánh Nhàn lăn ra đất, đạp túi bụi vào bụng chị, xong cứ ôm xác con không chịu buông.

Có hồi em thấy tuyệt vọng, đó là lúc em không biết nói gì lúc chồng về nằm cuộn trên võng như chui vào kén. Tẻ nhạt hết sức nói cái xóm Thơm Rơm này, nơi những người đàn ông ngập trong rượu và mối lo thất mùa rớt giá, con cái ốm đau; nơi những người đàn bà suốt ngày cắm mặt vá víu những chỗ rách trong nhà. Chị Nhàn ít ra đường, em không thể tả cho chồng nghe giờ chị ốm hay đen, ăn mặc như xưa hay rách rưới, vẫn cười hay khóe miệng đìu hiu.

Rồi Tam gây ra đám cháy đầu tiên. Người ta vẫn nhắc về nó như một sự kiện lớn của xóm Thơm Rơm, ngay cả khi chiến tranh cũng không thấy cháy lớn như vậy. Cháy trụi. Không còn gì. Những đám cháy sau này không gây ấn tượng sâu sắc cho họ nữa, nhàm rồi. Ngọn lửa chỉ khuấy đảo cái đời sống bình lặng và tù đọng của họ được một lần đó thôi. Chỉ mỗi em quan tâm, mỗi em biết không đám cháy nào giống hệt đám cháy nào.

Chị Nhàn đi đâu thấy có cái cây nào cặm cột được đều vác về quăng xuống ao ngâm, biết thể nào cũng xài tới. Những chi tiết này, chắc em đã kể nhiều lần, cái khó nhất là giữ vẻ bình thản. Ông Tam vẫn thường lang thang ngoài đường lúc nửa đêm, lè nhè chửi rủa chiếc xuồng vuột dây trôi mất, chửi đom đóm, chửi rạ rơm vướng chân.

– Nhưng sau lần cháy này, ông Tam sẽ không đốt nhà nữa.

Em cố giấu nỗi tiếc nuối với cái ý nghĩ, từ giờ mình chẳng còn vụ nhà cháy để kể. Điều đó có nghĩa chồng không về nữa, biết đâu. Ngồi kỳ cọ bàn tay đầy sẹo, trong nỗi đau đớn và nhẹ nhõm, trong cái trưa Thơm Rơm thẳng căng vắng rợn, trong tiếng đập cánh của những con ong vàng sà xuống hút mật chuối đang tươm ra, với cảm giác cắt nhát kéo vào sợi dây diều, em nói với người đàn ông cuộn trong kén chi tiết cuối cùng,  

– Nhàn đã không chạy ra khỏi đống lửa như mọi khi, anh à ! Không biết chị thấy mệt rồi hay vì nghĩ chỉ ở giữa đám cháy Tam mới nhìn thấy chị. 

Thông tin được tổng hợp bởi website làm áo đồng phục lớp An Việt Phước.

Đọc Đỏ trong Đỏ

Written by Áo Việt on . Posted in Giải trí

Như coi cái phim ít lời, và đẹp. Hay nhất là không có trai gái ạch đụi gì hết, khỏe người.
Cái ngõ lem luốc, đèn lồng cũ và hơi méo mó, hành lang tối đầy những xô chậu nhếch nhác . Nhân vật không thoại bằng lời ngoài vài ba câu nhát gừng (nên sẽ tốn kém kem đánh răng cho mấy anh chị diễn viên lắm). Nét mặt nói, ánh mắt nói, ánh sáng nói, cơn mưa nói, cây dù sút cán nói. Lưỡi dao đi vòng quanh quả táo (cũng lưỡi dao đó anh ta cắt móng chân, cạo râu, mài bén trên cái khu chén). Lõi táo đóng mốc meo trong thùng rác. Con kiến lặc lè đi với vụn bánh mì. Cơn sốt để lại vũng mồ hôi bết ướt tấm trải giường một hình người cong queo. Viên thuốc ố vàng vì hết hạn sử dụng. Con thằn lằn thò đầu vô cốc nước còn chút cặn. Đứa bé đưa bàn tay gầy gò nhỏ xíu gỡ ghèn, móc ghỉ mũi cho một anh thanh niên nằm ốm. Vài món đồ chơi sứt sẹo lăn theo nhát chổi khi người ta dọn dẹp một căn nhà vừa bỏ trống. Một cái áo khoác của em bé bị đứt nút do em bị giằng cướp đi…

Hăng lên thì nổ vậy, có thể những gì mình hình dung (cho cái phim) không đẹp bằng bản thân chữ trong Đỏ. 

Riêng cảnh thủ dâm, cậu ấm lang thang chắc nghĩ tới 😀

Âm thanh nền léo nhéo giày xéo lên nhau của vài ba thứ ngôn ngữ xa lạ, bị đẩy ra xa xa, vo ve trong đầu nhân vật, như tiếng ruồi lúc gần lúc xa. Sực nhớ cái phim “I don’t want to sleep alone”, chậm như rì như rỉ như ri.

Đọc Đỏ của Quỳnh xong không hiểu mấy anh làm sách, nhứt là thằng biên tập viên cao to trắng hôi nghĩ sao mà không in riêng em nó, kèm theo những minh họa nhức nách để cho sách nặng tay mà phải cố nhét thêm một cái truyện nữa vào. Như thùng nước lèo phở sau khi nêm nếm thơm ngon thì bị làm đầy bởi xô nước bún riêu. 

(viết trong lúc rảnh tay chờ báo Tết :)

Thông tin được tổng hợp bởi website làm áo đồng phục lớp An Việt Phước.

GS Bảo học máy

Written by Áo Việt on . Posted in Giải trí

Đến Viện nghiên cứu cao cấp về toán dự Chương trình chuyên biệt “Các phương pháp thống kê hiện đại trong học máy”, bạn sẽ tìm được câu trả lời cho câu hỏi: GS Bảo học máy hay là máy học GS Bảo.
Để theo dõi diễn biến của câu chuyện mang đầy tính thời sự này, mời bạn xem tiếp ở đây và ở đây.

Thông tin được tổng hợp bởi website làm áo đồng phục lớp An Việt Phước.

Từ ngôi mộ của La Rô

Written by Áo Việt on . Posted in Giải trí

Tôi bới đằng sau khoảng trống của bìa bốn, đỏ mắt một cuộc tái sinh của La Rô. Chắc là chú lừa sẽ trở lại bằng phương thuốc thần kỳ nào đó, bằng một kiếp sau dưới hình dáng một cây thị, hay chim vàng anh. Hoặc nửa đêm nào thần thánh sẽ ban phép mang linh hồn lừa vào con ngựa gỗ đang mang “yên cương, hàm thiếc, và dây tròng của con La Rô tội nghiệp”. Ngựa gỗ động đậy, và người thi sỹ kia lại có bạn cùng rong chơi.
Nhưng sau cái chết của La Rô không có điều kỳ diệu nào. Sau cái chết chỉ là cái chết. Không có đoạn kết khác ngoài lão nhà thơ đứng bên nấm mộ của con lừa, nghĩ về La Rô đang dạo trên đồng cỏ trên trời, “ngươi có còn nhớ ta không ?”. Đáp lời ông chỉ có một chiếc bướm trắng chấp chới bay.  
Đọc cuốn sách của Juan Ramón Jimétez vào năm tôi mười bảy tuổi, gặp nỗi buồn gì mà kỳ. Tuồng như, nỗi buồn mà trước đó tôi biết không phải buồn, những vở cải lương làm tôi khóc sụt sịt vào những đêm thứ bảy, cái áo mới bị lem mực, hay tiếng vạc sành kêu sốt ruột trong những tối mưa. Con lừa và tôi gieo buồn kiểu khác, đó là tình bạn gần như tri kỷ của nhà thơ và con lừa, đó là ngôi làng “trông giống đồng xu nhỏ rét rỉ và mất giá”, là bọn trẻ con khốn khó đóng giả tương lai của chính cuộc đời mình: ăn mày. Chúng khoe bố mình có khẩu súng, nhưng đó là “khẩu súng trường không giết nổi cơn đói”. Cuốn sách có nhiều cái chết, những em bé ngây thơ, con chó ghẻ, thúy yến, ngựa trắng…và cuối cùng là La Rô. Những mất mát không thể cứu vãn. Cái chết không để lại hào quang, hay một thứ khí tiết nào đó như những bài học trong sách giáo khoa và thư viện của trường. Chỉ có sự trống trải miên viễn.
Một dạo tôi hay vẽ vời hóa tuổi trẻ của mình, nghĩ đọc Con lừa và tôi xong, con bé đó bắt đầu lân la đến cái gọi là thân phận người, sự vô thường. Tất nhiên, là vẽ xạo trên cái nền tờ mờ của cảm giác.
Sách đó viết về vụ gì ? Tôi vẫn hay nhận câu hỏi kiểu vậy mỗi khi nhắc tới chuyện La Rô và thi sĩ. Câu hỏi khó. Những câu chuyện nho nhỏ được kể chậm rì. Mỗi chương đẹp như một bài thơ, kể cả viết về nỗi đau, cũng đẹp. Một người một lừa, hai kẻ gần như lạc lõng khỏi đám đông cùng ngôi làng lúc nào cũng hội hè, lễ lạt. Họ xa lạ với cộng đồng nhưng lại chìm đắm trong thiên nhiên, trong sự tĩnh lặng. Họ rong ruổi qua những buổi trưa tháng tư chiều tháng mười, họ nhìn chim chóc, cỏ cây và những con người cùng khổ bằng “cặp mắt anh em”. Giao cảm bằng tâm hồn, không cần nhiều lời, họ gắn bó đến mức thi sỹ nghĩ rằng con lừa mơ những giấc mơ của chính ông, thứ tình cảm mà cả hai không tìm được ở đồng loại. Họ đi từ mùa xuân cho tới mùa đông, cảm nhận chậm rãi vẻ đẹp của đất trời, mà rất nhiều trong số chúng là phù du, như “màn hơi mảnh mai trên trời đang bay bay về hư vô”, như “đốm sao băng rạch ngang một nửa bầu trời”…
Nghe kể xong, bạn bè phần lớn là chưng hửng, chỉ vậy thôi sao, thấy có hay ho gì đâu, ta ? Nhận ra  chẳng phải do diễn đạt lọng cọng, mà cuốn sách của Juan Ramón Jimétez vốn dĩ không thể kể. Đó là cuốn sách để đọc, thật chậm. Món quà dành cho kẻ cầm cuốn sách lên tay, nhấm nháp từng chương nhỏ, rồi cảm thấy chính mình đang ngấm dần, bả lả quanh mình mùi cam từ một ngôi làng Tây Ban Nha nào, gần lắm.  
Con lừa và tôikhông làm thay đổi cuộc đời tôi, chỉ một cuốn sách thôi khó có thể khiến con nhỏ làm vườn bỗng dưng bán chữ. Lì như tôi, cả đống sách thì may ra xoay chuyển nổi. Nhưng cuốn sách mỏng ấy gây ảnh hưởng nhiều đến ý thức viết lách của tôi. Chữ, cũng có quyền bi thương đến dòng cuối cùng, không cần mở ra tương lai tươi sáng nào, không cần liều lượng ba phần u ám bảy phần tươi tỉnh, hồi đó tôi nghĩ vậy. Và sau này, đọc lại những trang viết buồn rượi của mình, vài lần thoáng nghĩ đó là mớ dây leo mà gốc rễ xa xôi mọc từ ngôi mộ của con lừa “bằng thép pha với chất bạc của cung trăng”…
Tôi già đi, cuốn sách không đẻ thêm chữ nào. Nhưng mỗi lần đọc lại tôi nhận ra những vẻ đẹp mới. Hồi biết yêu, đọc thấy câu nào trong sách cũng đầy da diết với vẻ đẹp chóng tàn. Và chất thơ đẫm rượi của nó, đọc nhanh sẽ dễ bỏ qua. Con lừa và tôi thơ hơn cả những bài thơ mà tôi từng được đọc của Juan Ramón Jimétez… Riêng cái cảm giác u buồn mà tôi từng có hồi mười bảy tuổi, cùng cuốn sách, vẫn tươi nguyên vậy. Nhặt ở chương này sự mong manh của thân phận con người, như một thằng bé thơ ngây biến mất sau “một cơn gió đen oan nghiệt thổi qua con đường trắng”. Nhặt ở chương khác một con lừa không thích hòa mình vào các đám rước. Nó, cũng như thi sĩ, “không sinh ra để làm việc đó”. Và chương nọ, có thằng nhỏ mục đồng tuyệt vọng ước La Rô là của mình, và chủ nhân của con lừa thì tuyệt vọng vì không thể cho cậu bé. “Trở về… Nhưng về đâu ? Và từ nơi đâu ? Tại sao trở về ?”, đọc những câu kiểu vậy, lòng chùng xuống.
Có thể tôi đã không gặp được Don Quixote, Người đẹp ngủ mê, Của chuột và người, Đói, Mắt biếc, Gào thét trong mưa bụi, Tìm nơi hoang dã … trước Con lừa và tôi. Nên ngay cả khi tốn bộn nước mắt cho cuốn truyện trẻ con Chim hót trong lồng, tôi vẫn nghĩ tác phẩm của Juan Ramón Jimétez là buồn nhất. Điềm tĩnh  trên những chia lìa. Buồn ròng nhưng quang đãng. Bi thương nhưng không ai oán. Giản dị mà sáng như chữ dát bạc.

Sự tuyệt vọng, cũng có vẻ đẹp riêng của nó. 

Bản này hơi khác với bản trên báo Tuổi Trẻ do tui chỉnh sửa xong lại gửi nhầm file cũ :(

Thông tin được tổng hợp bởi website làm áo đồng phục lớp An Việt Phước.

Giữ ký ức

Written by Áo Việt on . Posted in Giải trí

Một người bạn Pháp, sống ở Đức từ hơn ba chục năm nay, nói với tôi về thái độ dũng cảm của người Đức khi phải đối mặt với ký ức đen tối của dân tộc mình, so sánh với sự thiếu dũng cảm của người Pháp. Bà nói rằng, ở Essen nơi bà sống, vùng bắc sông Ranh, học sinh trung học được giao việc, như bài tập về nhà, đi điều tra trong khu phố nơi mình đang sống đã từng có những gia đình Do thái nào sinh sống, họ đã bị Đức quốc xã bắt đi như thế nào, họ đã chết ở trại tập trung như thế nào. Ký ức về một trong những tội ác kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại cần được làm sống lại, không chỉ qua những trang sách lịch sử, mà cả bởi những khu phố thân quen. Cần  mở những cánh cửa cũ như muốn khép lên số phận những con người đã bị đối xử như súc vật.

Ký ức đen tối của dân tộc là một nỗi đau qua lớn đối với tâm hồn trẻ thơ. Một đứa trẻ còn ở tuổi cắp sách tới trường không có trách nhiệm với những tội ác mà ông cha nó đã phạm. Liệu có cần thiết hay không khuấy lên cái nỗi đau đó, làm sống lại cái nỗi đau đó qua từng năm tháng, qua từng thế hệ. Tại sao người lớn muốn làm đau trẻ con với ký ức về tội ác xảy ra nửa thế kỷ trước khi chúng ra đời. Tại sao trẻ con không được quyền sống một cuộc sống hồn nhiên, tin tưởng rằng đất nước mình luôn luôn tươi đẹp, cha ông mình không làm điều gì mà mình phải cảm thấy xấu hổ.

Với tôi, lý do ở đây là dân tộc Đức là một dân tộc đã trưởng thành, người Đức muốn con mình trở thành thành viên của một dân tộc trưởng thành. Mỗi người thừa kế từ cha ông mình tài sản hữu hình là nhà cửa, đường xá, tài sản vô hình là thể chế xã hội, là nền tảng đạo đức, tài sản tâm hồn là ký ức trong đó có cả những gì vinh quang và những gì nhục nhã. Cái làm nên lòng yêu nước chính là việc cùng thừa kế, cùng chia sẻ những tài sản đó, có cái hữu hình, cái vô hình, có cái vinh quang và cái nhục nhã.  Tại sao không lờ đi cái nhục nhã mà chỉ giữ lại những gì vinh quang? Người Đức có lẽ hiểu rất rõ rằng thức ăn cho tâm hồn con người chính là sự thật. Những dân tộc quen nấu sự dối trá cho mình ăn, sẽ dần dần quen với sự bạc nhược, sự đớn hèn của chính mình. Thế nhưng người ta vẫn thích nấu sự dối trá cho mình ăn. Vì sự thật nhiều khi không có lợi, hoặc là cứng quá, không tốt cho lợi.

Ông bà ngoại tôi sinh ra ở làng Bạch Mai, người ở giữa làng, người ở cuối làng, gần ngã tư Trung Hiền. Có lần tôi hỏi bà ngoại, làm sao mà ông bà, người ở giữa làng, người ở cuối làng lại gặp được nhau. Ông ngoại tôi đã mất, bà ngoại tôi đã lớn tuổi nên cơ hội cho tôi tìm lại ký ức của mình không còn nhiều nữa. Bà tôi bảo, hôm ấy ông đứng ở gốc bàng dưới phố mà ngửa cổ gọi vọng lên: “Cô Hằng ơi, cô Hằng ơi”. Được một lúc thì cụ thân sinh ra bà ngoại tôi thò đầu ra ngoài cửa sổ mắng: “Cái anh kia, sao cứ đứng giữa đường mà réo người ta thế. Anh gọi con tôi có việc gì?”.Ông tôi trả lời: “Dạ, con chỉ rủ cô Hằng đi dạy bình dân học vụ thôi ạ.” Vậy là ông bà ngoại tôi quen nhau khi đi dạy bình dân học vụ.

Tôi đưa bà ngoại về phố Bạch Mai với hy vọng tìm lại được gốc bàng nơi ông ngoại tôi đứng gọi bà ngoại tôi ngày xưa. Bà tôi cũng chỉ nhớ mang máng số nhà và dáng dấp của ngôi nhà nên chúng tôi phải vòng đi vòng lại mấy lần mà chưa thấy. May mà có cây bàng. Dọc phố Bạch Mai vốn trồng toàn bàng. Cái không may nhưng lại là may trong trường hợp của tôi là số bàng còn sống sót cũng không nhiều. Cái nhà giống nhất với những gì bà tôi còn nhớ bây giờ là một hiệu cầm đồ. Cả dãy phố đó còn lại một hai cây bàng nhưng có cả chục hiệu cầm đồ. Cái nào cũng giống cái nào, một đống máy vi tĩnh cũ nát, ba bốn cái xe máy lấm bùn. Tuy là trưa hè, nhưng người ta vẫn ngồi thành vòng trên hè phố quanh cỗ bài tá lả. Một vài người nhìn hai bà cháu tôi với một ánh mắt thù địch. Tự nhiên nảy ra trong tôi có một ý nghĩ vu vơ, nhưng là một sự tiếc nuối vô bờ cho một ký ức đẹp đẽ tinh khôi đã bị mất, đổi lại hình ảnh bạc nhược của một đống máy vi tính cũ vô hồn, của những chiếc xe máy cũ gỉ trong tiệm cầm đồ. Đành rằng, cầm đồ là một loại hình kinh doanh có lợi.

Thông tin được tổng hợp bởi website làm áo đồng phục lớp An Việt Phước.

Nhìn lại một năm

Written by Áo Việt on . Posted in Giải trí

Bài của GS. Hồ Tú Bảo đã đăng trên Tia Sáng.
*****

Một năm là quãng thời gian ngắn ngủi đối với một viện nghiên cứu, nhưng có thể nói một năm, và nhất là sáu tháng qua, Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán (VIASM) đã lặng lẽ hoạt động cho các mục tiêu và kế hoạch của mình, với sự tham gia và ủng hộ của đông đảo người Việt làm toán trong và ngoài nước, và nhiều nhà toán học xuất sắc trên thế giới.

Tuy đã bắt đầu hoạt động từ tháng 6 năm ngoái với các bài giảng của giáo sư Ngô Bảo Châu, các hoạt động chính của VIASM mới thực sự bắt đầu từ tháng 2 năm nay (2012), khi “nhóm tối ưu miền Nam” do giáo sư Phan Quốc Khánh của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì tới làm việc bốn tháng ở Viện (“Hình thức hoạt động chính của Viện là tổ chức các nhóm chuyên môn, tập hợp các nhà khoa học trong cùng một lĩnh vực đến làm việc ngắn hạn ở Viện.”, http://viasm.edu.vn/?page_id=36).

VIASM chủ trương tiến hành các hoạt động khoa học ngay khi ban giám đốc được bổ nhiệm và khi thuê được trụ sở tạm thời tại thư viện Tạ Quang Bửu của Đại học Bách khoa Hà Nội, cùng lúc với việc lập ban tư vấn quốc tế, hội đồng khoa học và văn phòng phục vụ cho các hoạt động của Viện. Các quy định về cách thức hoạt động, tiêu chí tuyển nghiên cứu viên và nhóm nghiên cứu, xét chọn các đề tài và nhóm nghiên cứu cho năm 2012 và 2013, tôn tạo 10 phòng làm việc khang trang cho các nghiên cứu viên, làm trang web của Viện… cũng được tiến hành trong thời gian này.

Điều dễ nhận thấy là sự minh bạch trong các hoạt động của Viện, với mọi thông tin như đề tài, nhân sự và kinh phí được nêu một cách rõ ràng trên trang web của Viện bằng tiếng Việt và tiếng Anh (http://viasm.edu.vn).

Một điều vẫn đáng bàn là tại sao lại nên có VIASM ở Việt Nam, điều mà nhiều người kể cả nhiều nhà khoa học vẫn còn băn khoăn. Một lý do là khi nhìn các nhà toán học làm việc ta thường chỉ thấy họ dùng giấy và bút hay bảng và phấn, nhưng ít thấy là họ cần và phải trao đổi rất nhiều với đồng nghiệp để hiểu các vấn đề phức tạp và hình thành các ý tưởng, và rồi cặm cụi tìm cách chứng minh chúng. Chính vì vậy nhiệm vụ chính của VIASM là cung cấp cơ hội để những người làm toán trong cùng một lĩnh vực đến đây (ít nhất là hai tháng) cùng trao đổi về những bài toán của mình.

Một lý do cơ bản khác là trong mấy trăm trường đại học và cao đẳng trên cả nước có hàng nghìn người dạy toán và nếu trong số này không có một vài trăm người làm nghiên cứu thì dễ có lúc các thầy cô dạy toán đại học của ta choáng ngợp về sự phát triển của toán học trên thế giới và có thể bị “cóng” mà không dạy nổi nữa. Để một vài trăm người này làm nghiên cứu theo được trình độ quốc tế, họ cần được hỗ trợ, như có những quãng thời gian đến làm việc ở VIASM với các chuyên gia. Những người làm toán hiểu sâu sắc rằng mục tiêu phát triển toán học của ta không phải vì một vị trí xếp hạng nào đó trên thế giới, mà để nâng chất lượng nghiên cứu và ứng dụng toán học, góp phần của toán học vào nền khoa học và công nghệ còn non yếu của ta, thậm chí để nuôi dưỡng và giữ được lực lượng nghiên cứu toán học của ta trong những năm tới.

Để được chọn đến VIASM làm việc, những người làm toán phải tập hợp được thành các nhóm với các đề tài có giá trị. Hai yêu cầu cơ bản là mỗi nhóm phải có một người chủ trì có uy tín về chuyên môn và phải mời được một vài chuyên gia loại hàng đầu thế giới cùng chuyên ngành đến làm việc ở VIASM với mình trong thời gian tối thiểu là hai tuần. Việc mời được các chuyên gia uy tín phụ thuộc vào quan hệ quốc tế của người chủ trì nhóm, và phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của giám đốc khoa học của Viện (ở châu Á, giáo sư Ngô Bảo Châu là người thứ tư được giải Fields, sau ba nhà toán học người Nhật). Có thể hiểu việc có các chuyên gia uy tín quốc tế thường xuyên đến làm việc cộng với điều kiện làm việc tốt, phù hợp với ngành toán của VIASM là nghĩa chính của hai chữ “cao cấp” trong tên gọi Viện Nghiên cứu Cao cấp về Toán.

Cách hoạt động hỗ trợ các nhà toán học đúng với đặc trưng ngành toán như ở VIASM đã phổ biến trên thế giới lâu nay, không chỉ ở các nước có nền toán học rực rỡ như Mỹ, Pháp, Nhật.. mà còn ở nhiều nước quanh ta như Ấn Độ, Hàn Quốc, Pakistan, Malaysia… Tuy nhiên, có những điều kiện cần để một viện như vậy có thể hiệu quả, như một người phụ trách có uy tín quốc tế cao.

Nhiều người có thể sẽ ngạc nhiên khi biết kinh phí dành cho VIASM không nhiều như có lúc đã thấy trên báo chí (thực ra 651 tỷ đồng là kinh phí cho ngành toán cả nước trong quãng thời gian 2010-2020). Trang web của VIASM cho biết Viện được cấp 4,4 tỷ VNĐ cho năm 2011 và 15 tỷ VNĐ cho năm 2012 (http://viasm.edu.vn/?page_id=3801). Kinh phí của VIASM năm 2012 như vậy là quãng 0,75 triệu USD, một con số thật khiêm tốn nếu so sánh với kinh phí 20 triệu USD hằng năm của Viện Toán cao cấp của Hàn Quốc, hoặc gấp quãng 8 lần kinh phí trung bình hàng năm của một giáo sư tại viện Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản (JAIST) ở Nhật.

Việc tuyển chọn các đề tài đến làm việc tại VIASM được hội đồng khoa học tiến hành nghiêm túc. Mỗi hồ sơ đề tài đều được đọc và thảo luận bởi toàn bộ 14 thành viên hội đồng sau khi nghe nhận xét chi tiết của ít nhất hai thành viên có chuyên môn gần với đề tài, và quyết định bởi giám đốc khoa học của Viện. Trong bốn tháng vừa qua, VIASM đã đem nhiều người làm toán trên cả nước, từ Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Quy Nhơn, Huế… và Hà Nội tới làm việc ở Viện.

Điều đáng nói là VIASM đã và đang là cầu nối và nơi đến của rất nhiều người Việt đang làm toán ở nước ngoài. Có VIASM những người làm toán này có thêm nơi để trở về góp sức với anh em làm toán trong nước. Họ về để chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước những gì họ biết và đang làm. Riêng tại hội nghị toán học Việt-Pháp vào cuối tháng 8 năm nay ở Huế do Hội Toán học Việt Nam và Hội Toán học Pháp tổ chức với sự tham gia tích cực của VIASM, đã có hơn 50 nhà toán học người Việt ở nước ngoài đăng ký tham gia.

Cũng rất đáng nói là VIASM là nơi để nhiều nhà toán học lừng danh thế giới đến giúp đỡ các đồng nghiệp Việt Nam. Căn hộ công vụ nhà nước cấp cho giáo sư Ngô Bảo Châu được dùng làm chỗ ở cho các giáo sư nước ngoài đến làm việc ở VIASM, khi anh không ở Việt Nam. Nhiều người trong số họ, như giáo sư Thomas Hales từ Đại học Pittsburgh, có sở thích hằng ngày đi bộ từ tòa nhà có căn hộ này đến VIASM, đi trong cái nắng nóng và ồn ào xe cộ của Hà Nội.

Khuyến khích toán học ứng dụng

Điều cuối cùng tôi muốn nói là trong khi phần lớn các đề tài của VIASM là về các nội dung của toán học lý thuyết, thì ban giám đốc và hội đồng khoa học của VIASM cũng rất khuyến khích và ủng hộ các đề tài về toán học ứng dụng và toán học trong các khoa học khác. Riêng năm 2012 VIASM đã nhận hai đề tài về toán học trong khoa học máy tính (công nghệ thông tin). Một về các thuật toán tiến hoá để giải bài toán tối ưu nhiều mục tiêu, và một về các phương pháp thống kê hiện đại trong học máy.

Đề tài “Các phương pháp thống kê hiện đại trong học máy” tại VIASM là một đề tài chuyên biệt, gồm hoạt động nghiên cứu của một nhóm mười người cùng các bài giảng cho đông đảo người quan tâm về lĩnh vực này. Học máy (machine learning), còn gọi học tự động nhằm làm cho máy có một số khả năng học tập của con người là một trong những lĩnh vực phát triển sôi động của khoa học máy tính trong vòng hai chục năm vừa qua. Chính Bill Gates cũng cho là “mỗi đột phá trong ngành học máy có thể đáng giá mười Microsoft” (“a breakthrough in machine learning would be worth ten Microsofts”).

Bản chất của học máy là việc làm cho máy tính tự động phân tích được các tập dữ liệu lớn và phức tạp thu được từ mô tả và quan sát các hiện thực trong tự nhiên và xã hội giúp con người hiểu và dùng chúng. Ứng dụng của học máy có ở bất kỳ nơi đâu có những tập dữ liệu cần khai thác, như phân tích rủi ro trong hoạt động tài chính; dự đoán bệnh tật và hiệu quả của các loại thuốc; tìm kiếm thông tin trên web như ta vẫn dùng Google; tự động biết về nhu cầu và sở thích của khách hàng trong kinh doanh; dịch một văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt…

Đáng kể là trong vòng hơn một thập kỷ vừa qua, có một sự phát triển mạnh mẽ nhằm tạo ra và đưa các phương pháp toán học vào học máy tiêu biểu là các phương pháp đại số, đồ thị, tối ưu, giải tích hàm và xác suất thống kê để giải các bài toán khó của lĩnh vực này. Học máy là một ví dụ tiêu biểu cho thấy toán học có vai trò quyết định trong một khoa học khác, và những lý thuyết toán học hiện đại đang được dùng vào những ứng dụng rất thiết thực.

Các phương pháp học máy thống kê đã và đang thay đổi sâu sắc ngành học máy trong hơn một thập kỷ qua với những kết quả kỳ diệu. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh và phong phú này đã làm một bộ phận lớn của cộng đồng nghiên cứu học máy trên thế giới bị tụt lại, và có lẽ cũng làm cho rất nhiều người làm nghiên cứu và ứng dụng học máy ở Việt Nam không theo kịp.

Đề tài học máy thống kê tại VIASM từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 8 năm nay do một số giáo sư người Việt đang nghiên cứu trong lĩnh vực này tại Nhật, Mỹ, Úc chủ trì với sự tham gia của giáo sư John Lafferty từ Đại học Chicago, một chuyên gia học máy hàng đầu thế giới. Các lớp học của đề tài đã thu hút hơn 120 thầy cô giáo, cán bộ một số bộ ngành, công ty, nghiên cứu sinh và sinh viên trên cả nước đăng ký tham gia (http://viasm.edu.vn).

Năm hoạt động đầu tiên này cho phép ta hy vọng và tin rằng VIASM sẽ đạt được những mục tiêu của mình trong những năm tiếp theo.

Thông tin được tổng hợp bởi website làm áo đồng phục lớp An Việt Phước.

Vũ trụ trong chiếc nón

Written by Áo Việt on . Posted in Giải trí

“Vũ trụ trong chiếc nón” : bài giảng của GS. Darriulat tại Viện nghiên cứu cao cấp về toán

*****

Thứ tư 18/7/2012, tại Viện nghiên cứu cao cấp về toán, GS. Darriulat sẽ đọc bài giảng có nhan đề “Vũ trụ trong chiếc nón”.

Đây là bài giảng đầu tiên trong chuỗi bài giảng Khoa học thưởng thức do Viện nghiên cứu cao cấp về toán tổ chức, dành cho đối tượng bao gồm những người có kiên thức chung về khoa học, nhưng không nhất thiết có hiểu biết chuyên môn sâu trong lĩnh vực của bài giảng. Diễn giả là những nhà khoa học hàng đầu, có liên quan trực tiếp tới những vấn đề nóng hổi và những tiến bộ gần đây nhất trong lĩnh vực được đề cập tới.

Sự kiện làm rung chuyển thế giới khoa học trong đầu tháng bảy 2012 vừa qua là công bố của hai nhóm thực nghiệm tại Viện nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN) về hạt boson Higgs. Loại hạt này cho phép giải thích cơ chế sinh ra khối lượng của các hạt cơ bản trong Mô hình chuẩn. Sự tồn tại của hạt Higgs được đưa ra như một giả thuyết trong những năm 1960. Nó là đối tượng của một cuộc săn đuổi kéo dài gần 50 năm và là một trong những lý do chính cho việc xây dựng máy gia tốc đối chùm hadron khổng lồ (LHC) ở CERN.

GS. Darriulat sống và làm việc ở Hà nội từ nhiều năm. Trước khi sang Việt nam, ông làm việc ở CERN với cương vị Giám đốc nghiên cứu.Ông là phát ngôn viên của nhóm thực nghiêm UA2 mà kết quả nghiên cứu
đã dẫn tới sự phát hiện ra boson W và Z chuyên trở lực tương tác yếu trong những năm 80.

Để tiện cho việc bố trí hội trường, đề nghị những quí vị dự kiến tới nghe bài giảng của GS. Darriulat,
đăng ký qua email trước ngày thứ hai, 16/7/2012. Địa chỉ liên lạc chinhbv viasm.edu.vn.

Bài giảng của GS. Darriulat bắt đầu lúc 15:30, tiệc trả bắt đầu lúc 15:00 ngày 18/7/2012 tại Viện nghiên cứu cao cấp về toán, tầng 7 Thư viện Tạ Quang Bửu, số 1 Đại Cồ Việt, Hà nội.

Thông tin được tổng hợp bởi website làm áo đồng phục lớp An Việt Phước.

Nguyễn Ngọc Tư vs Mike Tyson…

Written by Áo Việt on . Posted in Giải trí

…giống nhau ở chỗ thích cắn tai thiên hạ. Khác nhau ở chỗ NNT chỉ cắn day day cho nhột chơi còn Mike thì nghiến đứt luôn.

Dạo này mình hay thấy bảo mình cộng với này cộng với kia không bằng nọ. Hoặc Tinh Tính Tình là một hiện tượng chói chang nứt nẻ y hệt Ngô Nghê Tí.

Chẳng biết sắp tới có bị lên báo kiểu như bụng NNT nhỏ hơn bụng PTH :P. Hoặc “So về cơ bắp thì NNT sao có thể ngẩng mặt lên với Phạm Văn Mách” :)). Hay, “bẽ bàng thay cho NNT, đã không khùng được như Bùi thi sĩ mà đen còn kém xa cầu thủ Demba Ba”.

Bao giờ thì mình được so sánh với sự đẹp trai của… Daniel Craig, hả trời ? Cả ao ước nhỏ nhoi đó mà kiếp này còn không có được :(. 

Bi kịch hong ??!!  

Thông tin được tổng hợp bởi website làm áo đồng phục lớp An Việt Phước.